0 Bài 12: Tìm hiểu History Panel (cs4)



Bài 12: Tìm hiểu History Panel (cs4)
Nếu trên màn hình của bạn chưa hiển thị History panel,bạn vào Menu Window chọn history để hiện chúng.

Bạn sử dụng History panel để trở về trạng thái (state)trước đó của file ảnh.Mỗi khi bạn áp dụng một lệnh nào đó để chỉnh sửa trên file ảnh thì một trạng thái mới sẽ được thêm vào History panel,tên của trạng thái đó chính là tên lệnh bạn vừa thực hiện và bạn không thể thay đổi tên này.

Trong quá trình xử lý ảnh đôi khi bạn không vừa ý với kết quả hiện tại,bạn có thể lùi trở lại trạng thái trước đó thông qua History panel này (giống như undo nhiều bước). Muốn trở lại trạng thái nào bạn bấm chuột vào tên trạng thái đó.Mặc định photoshop lưu lại 20 bước sau cùng, những bước trước đó sẽ bị xóa để giải phóng bộ nhớ,tuy nhiên bạn có thể chỉnh lại thông số này bằng cách vào Menu Edit\Preference\Performance và chỉnh lại số trong hộp History & catch.

Bạn chỉ có thể "xoay trở" trong phạm vi 20 state (theo mặc định),ngoài giới hạn này xem như "hết đường quay về".Bạn có thể lưu giữ một trạng thái nào đó bằng cách tạo snapshot.bấm vào nút "create new snapshot" để tạo snapshot.Khi mở file ảnh thì mặc định sẽ có một snapshot lưu giữ trạng thái ảnh ngay sau khi open nếu như nút check Automatically Create First Snapshot đã được chọn (bạn bấm vào biểu tượng ở góc trên phải của History panel,chọn History Option để thấy nút check này).


-Khi bạn đóng rồi mở lại file ảnh thì các state và snapshot trong history panel sẽ bị xóa.

-Khi bạn chọn một state để xóa thì các state nằm bên dưới nó sẽ bị xóa theo,nhưng nếu bạn chọn nút check Allow non-linear history (bấm vào nút tại góc trên phải History panel chọn History option sẽ thấy nút check này) thì khi chọn state đểxóa,chỉ xóa một state đó mà thôi.

-Cũng tương tự như Layer panel, muốn xóa state hay snapshot nào bạn rê chúng và thả vào biểu tượng trên History panel.
[Read More...]


0 Bài 13: Nhóm công cụ phục chế ảnh Clone stamp (cs4)



Bài 13: Nhóm công cụ phục chế ảnh Clone stamp (cs4)
Click vào nút tam giác màu đen trên công cụ sẽ xuất hiện nhóm như sau

I - Công cụ clone Stamp:

Công cụ này dùng để lấy một phần ảnh (source)từ vị trí này tô (clone) lên vị trí khác trên cùng một bức ảnh hoặc trên một file ảnh khác.Người ta thường dùng công cụ này để chỉnh sửa, xóa đi những vùng khiếm khuyết trên một bức ảnh hoặc phục chế ảnh.
Sử dụng công cụ này chúng ta phải lấy mẫu (sampled), xong clone mẫu này đến vị trí mong muốn.

1 - Chọn biểu tượng trên thanh công cụ.
2 - Bấm Alt + Click chuột để lấy mẫu .
3 - Click vào vùng ảnh để nhân bản mẫu (clone).
Các bạn xem hình minh họa sau đây:

Thanh tùy chọn của công cụ Clone stamp như sau:

A - Chọn một nét cọ trong tùy chọn Brush.
B - Chọn một chế độ hòa trộn trong tùy chọn Mode.
C - Chọn một độ mờ đục trong tùy chọn Opacity (giá trị từ 0 đến 100).
D - Tùy chọn Align:

+ Nếu kiểm nhận (click vào nút check) tùy chọn này thì sau lần clone đầu tiên, những lần clone sau mẫu sẽ tự động lấy tại vị trí có khoảng cách và "chiều " tương ứng với vị trí ban đầu.xem hình sau đây

+ Nếu không kiểm nhận tùy chọn này thì sau lần clone đầu tiên, những lần clone sau mẫu sẽ tự động lấy ngay vị trí ban đầu .

E - Tùy chọn Sample:

-All layer : Lấy mẫu trên tấc cả layer đang hiển thị.
-Current layer: chỉ lấy mẫu trên layer hiện hành.
-Current & Below : lấy mẫu trên layer hiện hành và những layer bên dưới nó .

F- Nút :

-Nếu chọn nút này : Khi lấy mẫu sẽ loại trừ Adjustments layer.

-Nếu không chọn nút này : Khi lấy mẫu sẽ sử dụng luôn Adjustment layer. Các bạn xem hình minh họa sau :


G - Nút clone source :

Trong photoshop CS4 chức năng clone source cho phép chúng ta định trước 5 clone source khác nhau, muốn dùng source nào thì chọn source đó.Bạn có thể lấy mẫu trên một file hay nhiều file nhưng phải đảm bảo rằng các file đó đang được mở trên màn hình. Khi bấm vào nút Clone source, Clone source panel sẽ xuất hiện.

Ngay dưới tab Clone source bạn thấy 5 nút biểu tượng clone source , bạn chọn nút đầu tiên, xong bấm Alt và click chuột vào nơi cần lấy mẫu trên file ảnh,(kích thước mẫu sẽ phụ thuộc vào nét cọ do bạn chọn trong tùy chọn Brush).Chọn nút clone source thứ 2 và thực hiện lại việc lấy mẫu (nếu bạn muốn định dạng thêm source thứ hai,tiếp tục cho nút thứ ba, thứ tư,thứ năm). Bên dưới các nút clone source là dòng tên file và layer cho ta biết layer nào của file nào đã được lấy mẫu. Các bạn có thể thay đổi hình dạng (scale) hoặc xoay (rotate) clone source bằng cách thay đổi giá trị trong ô W ,H hoặc

II - Công cụ Pattern Stamp:

Cũng là công cụ nhân bản nhưng mẫu là một pattern,nên không có thao tác lấy mẫu,bạn click chuột vào nút pattern trên thanh tùy chọn để chọn trước một pattern xong click vào file ảnh.Bạn cũng có thể tạo một pattern cho riêng mình bằng cách chọn lệnh từ Menu Edit\Define pattern.
Hình minh họa sau đây được clone bằng pattern.

Các bạn có thể tham khảo thêm bài học này trong phần Photoshop CS2.
[Read More...]


0 Bài 11: Tìm hiểu về Layer (cs4)



Bài 11: Tìm hiểu về Layer (cs4)
Để thuận tiện cho việc xử lý Photoshop cho phép chúng ta bố trí các đối tượng trên từng Layer để khi làm việc với đối tượng trên Layer này không làm ảnh hưởng đến đối tượng trên Layer khác.

Các bạn hình dung Layer giống như những tấm phim trong suốt được xếp chồng lên nhau, trên các tấm phim đó được bố trí các đối tượng như hình ảnh,văn bản..Vùng trong suốt trên Layer cho chúng ta nhìn thấy những Layer nằm bên dưới nó.Nếu đối tượng nằm trong Layer trên cùng bao trùm toàn bộ file ảnh thì bạn sẽ không nhìn thấy bất kỳ đối tượng nào bên dưới nó, tuy nhiên bạn có thể giảm “độ mờ đục” của Layer này làm cho nó trở nên trong suốt để nhìn thấy đối tượng bên dưới.Nếu Layer bạn tạo ra không chứa đối tượng nào thì nó là Layer trong suốt (transparent).

Số Layer trong một file ảnh là không giới hạn,bạn có thể tạo bao nhiêu Layer cũng được nếu như cấu hình máy cho phép.Hãy luôn luôn nhớ rằng có quá nhiều layer trong một file ảnh sẽ làm dung lượng file trở nên rất lớn, máy tính của bạn sẽ bị treo nếu như nó không đủ “công lực”.Bạn kiểm soát các tác vụ về Layer thông qua Layer Panel.Mô hình sau đây giúp bạn dể hình dung về Layer.

Các bạn xem hình sau đây:

File ảnh có 4 layer,layer dưới cùng la Background (màu trắng),trên nó là Layer 1 chứa đối tượng ảnh, trên nữa là Layer chữ HOCPSD.COM và trên cùng là Layer 2 chứa đối tượng hình Elippse màu đỏ.Các bạn chú ý chữ HOC của Layer HOCPSD.COM hơi bị mờ là do hình Elippse ở layer trên che khuất phần này nhưng do giảm Opacity xuống còn 77% nên có thể nhìn thấy phần bị khuất (chữ HOC) ở layer bên dưới.Nếu Opacity là 100% thì chữ HOC sẽ bị che khuất hoàn toàn.

Chúng ta sẽ tìm hiểu chi tiết về những vấn đề liên quan đến layer trong Layer Panel.Bạn phải bảo đảm rằng Layer Panel đang hiển thị trên màn hình nếu không bạn bấm phím F7 hoặc chọn lệnh Windows\Layers để hiển thị chúng. Khi bạn tạo mới một file ảnh từ Photoshop hay mở một file ảnh chưa qua xử lý thì mặc nhiên chỉ có một layer duy nhất là Background.

-Tạo một layer : nhấp chuột vào nút Create new layer trên Layer panel,một layer mới được tạo ra với tên mặc định là Layer 1.
-Đổi tên layer : Nhấp đúp chuột vào vùng tên layer và nhập tên mới.


-Xóa layer : Chọn layer cần xóa (nhấp chuột, không nhấp đúp) xong bấm phím Delete trên bàn phím hoặc nhấp vào biểu tượng trên Layer panel hoặc rê layer cần xóa thả vào nút trên Layer panel.


-Copy layer : Rê layer muốn copy thả vào nút trên layer panel hoặc bấm Ctr-J trên bàn phím.

-Ẩn hiện layer : Nhấp chuột vào biểu tượng ngay bên trái tên layer trong Layer panel.

-Di chuyển layer : nhấp chuột vào layer và rê lên trên hoặc xuống dưới, bấm phím Ctrl-] để chuyển lên và Ctrl-[ để chuyển xuống từng layer một.

-Chọn layer : Chọn một layer thì nhấp chuột vào layer cần chọn,chọn nhiều layer không liên tục bấm đồng thời phím Ctrl và nhấp chuột trên layer,nếu chọn nhiều layer liên tục thì nhấp chọn layer đầu tiên, bấm phím Shift và nhấp vào layer cuối cùng.

-Opacity layer : Khi opacity là 100%, đối tượng sẽ hoàn toàn mờ đục,opacity 0% đối tượng sẽ hoàn toàn trong suốt khi đó chúng ta sẽ nhìn thấy rõ ràng đối tượng bên dưới ,opacity là 50% sẽ “trong suốt một phần” và cũng sẽ nhìn thấy đối tượng bên dưới nhưng chỉ “nhìn được 50%”.Giá trị opacity thay đổi từ 0% đến 100%,bạn có thể nhập vào một số hoặc bấm vào nút bên cạnh để rê thanh trượt opacity
-Liên kết layer : Chọn các layer cần liên kết, nhấp chuột vào nút trên Layer panel,các layer đã được liên kết sẽ xuất hiện biểu tượng mắt xích sau tên layer. Muốn hủy liên kết thì nhấp vào biểu tượng lần nữa.


-Gộp layer : nhấp chuột vào biểu tượng ở phía trên phải của Layer panel sẽ xuất hiện bảng menu:


+Merge down : Sẽ gộp (merge) layer hiện hành với layer bên dưới nó thành một,nếu có nhiều layer đang được chọn thì sẽ gộp những layer này lại với nhau,bạn cũng có thể bấm phím Ctrl-E để thực hiện lệnh này.
+Merge visible : Chỉ gộp những layer đang hiển thị, bỏ qua layer ẩn,bạn có thể bấm phím tắt Ctrl-Shift-E.
+Flatten Emage : Gộp tấc cả các layer trong file ảnh thành lớp background,nếu có layer nào đang ẩn thì photoshop sẽ hỏi chúng ta có vứt bỏ những layer đang ẩn không,hỏi cho vui vậy thôi chứ chúng ta chỉ có một con đường là OK thôi-mấy ông lập trình này cũng rảnh quá đi.

Nếu tấc cả các layer đều hiện thì lệnh Merge Visible và Flatten Image là như nhau. Bạn có thể bấm vào đây để tham khảo thêm về layer

----------CHÚC CÁC BẠN MAU TIẾN BỘ----------
[Read More...]


0 Bài 10: Công cụ lấy mẫu màu (cs4)



Kích vào nút bung Eyedropper trên thanh công cụ sẽ xuất hiện nhóm công cụ như sau:

A – Công cụ Eyedropper (I):
Công cụ này lấy một mẫu màu để tạo màu mới cho hôp màu Foreground hoặc background.Bạn có thể lấy mẫu màu trên file ảnh hiện hành hay bất kỳ vị trí nào trên màn hình làm việc.

1-Chọn công cụ Eyedropper (I):

2-Để thay đổi kích thước mẫu, chọn 1 tùy chọn trong mục sample size trên thanh tùy chọn.

Point sample : Lấy chính xác giá trị của pixel màu tại vị trí click chuột
3 by 3 Average, 5 by 5 Average, 11 by 11 Average, 31 by 31 Average, 51 by 51 Average, 101 by 101 Average :Lấy giá trị trung bình của số pixels màu mà bạn đã chọn tại vùng bạn click chuột.Ví dụ bạn chọn 5 by 5 Average thì sẽ lấy giá trị pixels trung bình trong phạm vi 5 x 5 pixels.
3-Chọn một trong các tùy chọn dưới đây trong mục sample trên thanh tùy chọn.

-All Layer : Lấy mẫu màu trên tấc cả các Layer đang hiển thị
-Current Layer: Lấy mẫu trên Layer hiện hành.


4- Thực hiện những việc sau đây:

-Để chọn màu Foreground mới,bạn click chuột lên file ảnh tại vị trí bạn muốn lấy mẫu màu. Bạn cũng có thể click giữ chuột và rê trên file ảnh,màu Foreground sẽ được cập nhật ngay lập tức khi rê chuột,khi nhả chuột thì màu tại vị trí đó sẽ được chọn.
-Để chọn màu Background mới bạn bấm phím giữ phím Alt và thực hiện như lấy mẫu màu Foreground.



B-Công cụ Color Sampler Tool (I):

Công cụ này dùng để “đánh dấu” vị trí cần lấy mẫu màu. Chọn công cụ, click lên file ảnh nơi cần lấy mẫu,một nút tròn sẽ xuất hiện đánh dấu vị trí đó và ngay lập tức Panel Info sẽ bung ra cho ta biết thông số màu tại vị trí bạn đã đánh dấu.Bạn có thể chọn tối đa 4 nút trên file ảnh.
[Read More...]


0 Bài 9: Cắt xén và phân chia hình (cs4)



Trong bài này tôi sẽ giới thiệu với các bạn công cụ cắt xén Crop và phân chia hình ảnh Slice.
1 – Công cụ cắt xén Crop (C):

Sử dụng công cụ này để loại bỏ những phần dư thừa của một bức ảnh nhằm tạo lại bố cục chặt chẽ hơn.

-Chọn biểu tượng trên thanh công cụ.

Thanh tùy chọn như sau:
+Nếu cắt xén chỉ để bố cục lại hình ảnh mà không quan tâm đến kích thước và độ phân giải sau khi crop, bạn để trống tất cả các thông số trên thanh tùy chọn hoặc bấm nút clear.

+Nếu muốn xác định kích thước file ảnh sau khi crop, bạn nhập giá trị chiều rộng vào ô Width, chiều cao vào ô Height.

+Nếu muốn tính toán lại độ phân giải, nhập độ phân giải vào ô Resolution.

+Nếu muốn crop sử dụng kích thước của một file ảnh khác thì mở file ảnh đó ra và chọn Front Image trên thanh tùy chọn.

-Rê chuột trên file ảnh để chọn phần ảnh cần giữ lại,các bạn không cần chọn chính xác vì chúng ta có thể chỉnh lại sau đó.Khi nhả chuột, một khung bao có 8 nút điều khiển xuất hiện, phần bên trong khung bao sẽ được giữ lại,phần bên ngoài đường bao có màu tối hơn sẽ bị loại bỏ khỏi file ảnh nếu tùy chọn Delete trên thanh tùy chọn đang được chọn hoặc bị ẩn đi nếu tùy chọn hide đang được chọn.Hai nút delete và hide trên thanh tùy chọn chỉ làm việc khi file ảnh có hơn một Layer hoặc nếu chỉ có một Layer thì Layer này không phải background.

+Nếu đã đồng ý với vùng chọn này bạn kết thúc lệnh Crop bằng cách nhấp đúp chuột vào bên trong khung bao hoặc bấm phím Enter hoặc click chuột vào nút trên thanh tùy chọn.

+Nếu cần chỉnh lại vùng chọn,bạn bấm và rê một trong bốn nút điều khiển trên mỗi cạnh khung bao để thay đổi kích thước ngang hoặc dọc, 1 trong 4 nút ở góc khung bao để thay đổi đồng thời kích thước ngang và dọc,kết hợp phím Shift để thay đổi theo tỉ lệ.

+Nếu chọn Perspective trên thanh tùy chọn,khi rê nút điều khiển ở 1 trong 4 góc khung bao sẽ tạo “hiệu ứng phối cảnh”.
+Nếu muốn thay đổi vị trí vùng chọn, kích chuột vào bên trong khung bao và rê sang nơi khác,rê nút tròn ngay trung tâm khung bao để dời tâm biến đổi.

+Nếu muốn xoay vùng chọn, đặt trỏ chuột bên ngoài khung bao, một mũi tên cong xuất hiện cho phép xoay vùng chọn.

Ví dụ tôi có bức ảnh như sau:

Tôi muốn cắt gọn lại để lấy hai hàng bông ở giữa,xoay hình lại ngay ngắn và file ảnh sau khi crop có kích thước là 6cm x 9cm độ phân giải là 72 pixels/inch, làm như sau (xem hình)


2 – Công cụ Slice (C) :

Công cụ Slice phân chia hình ra làm nhiều phần,thường dùng phân chia hình cho web.Bạn giữ chuột và rê trên hình giống như tạo vùng chọn,sau khi phân chia xong bạn save file lại bằng lệnh save for web (Alt+Shift+Ctrl+S) thì mỗi ô phân chia trên hình sẽ tự động được lưu thành một file riêng.

Công cụ Slice Select dùng để chỉnh sửa lại vùng phân chia bạn đã tạo ra bằng Slice.
[Read More...]


0 Bài 8: Tùy biến vùng chọn (cs4)



Trong bài này chúng ta sẽ tìm hiểu về cách tùy biến vùng chọn,phần này khá giống nhau giữa 2 phiên bản CS2 và CS4 nên tôi không viết lại, các bạn tìm hiểu nội dung bài này trong phần bài 7 của Photoshop CS2.Bấm vào đây để xem bài.
[Read More...]


0 Bài 7 : Tạo vùng chọn bằng công cụ Magic Wand Và Quick Selection (cs4).



Trong bài học này tôi sẽ giới thiệu với các bạn hai công cụ tạo vùng chọn khác đó là Magic Wand và Quick Selection.

Trước tiên xin nói thêm một vài điều.Photoshop cung cấp cho chúng ta nhiều hệ màu khác nhau như CMYK, Lab,RGB…..nhưng thông thường chúng ta hay sử dụng hệ màu RGB.Vậy RGB là gì?RGB là viết tắt của Red Green và Blue – là 3 màu cơ bản để tạo ra rất nhiều màu mà chúng ta có thể nhìn thấy được.RGB là tổng hợp của 3 kênh: kênh Red, kênh Green và kênh Blue, mỗi kênh là 8 bit, biểu diễn 256 giá trị từ 0 đến 255, khi kết hợp cả 3 kênh lại thì hệ màu RGB có khả năng thể hiện khoảng 16,7 triệu màu.Khi cả 3 kênh đều mang giá trị 0 (R=0;G=0;B=0) thì sẽ cho ra màu đen,khi 3 kênh mang giá trị cao nhất là 255 sẽ cho ra màu trắng,nếu cả 3 kênh mang cùng một giá trị từ 1-254 thì sẽ cho ra màu “xám”,khi cả 3 kênh mang 3 gía trị khác nhau thì sẽ cho ra một màu.Một bức ảnh màu tập hợp rất nhiều ảnh điểm mang giá trị màu khác nhau mỗi ảnh điểm là một pixel,số lượng pixel trên một đơn vị độ dài gọi là độ phân giải.Sơ qua vài điều để các bạn dể hình dung,chúng ta sẽ tiếp tục bài học.

1-Công cụ Magic Wand (đũa thần):

Chọn biểu tượng trên thanh công cụ,xong kích vào một vùng trên file ảnh thì một vùng chọn sẽ xuất hiện.

-Ý nghĩa các nút trên thanh tùy chọn:

Các nút New;Add,Subtract, intersec,Refine Edge của phần lớn các công cụ chọn đều giống nhau tôi đã giải thích trong những phần trước nên không nhắc lại ở đây, nếu không nhớ các bạn có thể xem lại tại đây.

Tùy chọn Tolerance : Quyết định ‘những màu tương tự” với màu mà bạn chọn.Bạn nhập vào một giá trị tính bằng pixel,trong giới hạn từ 0 đến 255.Giá trị nhỏ thì số pixel chọn sẽ ít,giá trị lớn thì số pixel chọn sẽ nhiều,photoshop sẽ tính toán để tìm chọn những pixel “gần giống” với pixel ngay vị trí bạn kích chuột căn cứ vào dung sai mà bạn cho trong hôp số tolerance.Nếu giá trị là 255 thì toàn bộ hình ảnh sẽ được chọn, ngược lại giá trị là 0 thì chỉ chọn những pixel “giống hệt” pixel ngay vị trí bạn kích chuột.

Tùy chọn Anti-alias : Bạn kiểm nhận vào nút này để tạo độ mượt đường biên vùng chọn. Tùy chọn Contiguous : Nếu kiểm nhận tùy chọn này thì những pixel tương tự nằm gần kề với vị trí kích chuột mới được chọn, nếu không thì chọn trên phạm vi toàn hình.

Tùy chọn Sample all layer : Nếu được kiểm nhận thì phạm vi tính toán được áp dụng trên toàn bộ layer nhìn thấy được, nếu không thì chỉ tính toán dựa trên layer hiện hành (layer mà bạn đang làm việc).

2-Công cụ Quick Selection :

Chọn biểu tượng trên thanh công cụ, chọn 1 trong 3 tùy chọn New, Add to Subtract from trên thanh tùy chọn, xong click giữ chuột và rê trên file ảnh ở nơi muốn tạo vùng chọn,vùng chọn sẽ tự động tạo ra khi rê chuột.


Thanh tùy chọn như sau:

- Các bạn có thể thay đổi “nét cọ” lớn nhỏ tùy ý thông qua hộp chọn Brush trên thanh tùy chọn.Tìm hiểu thêm về nét cọ bấm vào đây.

-nút New là giá trị mặc định ban đầu khi chưa có vùng chọn nào được tạo, Khi tạo xong vùng chọn thì nút new sẽ tự động chuyển sang Add to.
+ Muốn cộng thêm vùng chọn : Chọn Add to
+Muốn trừ vùng chọn : Chọn Subtract from
[Read More...]


Categories

Recent Comments

Featured Posts

POST TITLE 1

POST TITLE 1POST CONTENT 1

POST TITLE 2

POST TITLE 2POST CONTENT 2

Popular Posts

Return to top of page Copyright © 2011 | Platinum Theme Converted into Blogger Template by Hack Tutors